Di chúc của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự  

Công ty Luật CMA - hotline: 0986057998 - 0944296698

0
27

Người già yếu, cơ thể suy nhược, không thể đi lại, không thể viết được có được lập di chúc không?

  1. Điều kiện lập di chúc của người để lại di sản.

Di chúc là việc một người muốn chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo đó, để di chúc được hợp pháp thì phải đáp ứng các điều kiện quy định tại điều 630 BLDS năm 2015 sau đây:

– Khi lập di chúc, người lập phải minh mẫn, sáng suốt;

– Người lập di chúc không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;

– Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;

– Di chúc phải được lập thành văn bản. Nếu không thể lập thành văn bản thì có thể được lập di chúc miệng;

Như vậy, khi lập di chúc thì người lập di chúc phải ở tình trạng minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Với người rơi vào tình trạng nguy kịch, cơ thể suy nhược, hạn chế khả năng di chuyển, có thể lựa chọn 1 trong 3 hình thức sau để lập di chúc

  1. Hướng dẫn lập di chúc với người già yếu, cơ thể suy nhược, không thể đi lại

a) Lập di chúc miệng

Việc lập di chúc bằng miệng chỉ được đặt ra khi người lập di chúc không thể lập di chúc bằng văn bản. Cụ thể, đó là lúc một người bị cái chết đe dọa. Lúc chủ thể lập di chúc bị ốm nặng thì cũng là một trường hợp hợp pháp để thực hiện việc lập di chúc bằng miệng.

“Điều 629. Di chúc miệng

  1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
  2. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.”

Theo quy định tại Điều 627, Điều 629 và khoản 5 Điều 630 BLDS năm 2015. Di chúc miệng chỉ được pháp luật công nhận khi đáp ứng đủ các điều kiện sau

  • Di chúc miệng được lập khi tính mạng người lập di chúc bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
  • Di chúc miệng được lập thể hiện ý chí cuối cùng của người lập di chúc trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

*Lưu ý: Sau khi lập di chúc miệng 03 tháng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ

b) Trường hợp di chúc bằng văn bản có người làm chứng

Theo quy định tại điều 634 BLDS năm 2015: “Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.”

Trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết hoặc đánh máy được như bị tai nạn, ốm đau … là trường hợp đặc biệt cho nên luật pháp cho phép ngươi lập di chúc có thể nhờ người khác viết hoặc đánh máy nội dung di chúc người lập di chúc công bố và phải có hai người làm chứng cùng có mặt chứng kiến việc người lập di chúc công bố ý chí và người khác ghi lại nội dung. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào di chúc trước mặt những người làm chứng, sau cùng hai người làm chứng xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

  • Lưu ý về những người không được làm chứng lập di chúc

Căn cứ Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015, mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

  1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
  2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
  3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi:

– Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi.

– Người mất năng lực hành vi dân sự là người bị Tòa án ra quyết định tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Tòa án không tự ý ra quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự mà được thực hiện khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan dựa trên giám định pháp y tâm thần của trung tâm pháp y tâm thần theo hướng dẫn tại thông tư số 18/2015/TT-BYT ngày 14 tháng 7 năm 2015.

– Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người bị Tòa án ra quyết định tuyên bố có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, cụ thể:

c) Di chúc do công chứng viên đến tận nơi để lập

Theo quy định tại Điều 44 Luật Công chứng 2014 quy định:

“Điều 44. Địa điểm công chứng

  1. Việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
  2. Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng.”

Trong trường hợp người lập di chúc là người già yếu, không thể đi lại được do ốm đau, bệnh tật… mà không thể đến trụ sở của Phòng/Văn phòng công chứng thì công chứng viên có thể công chứng ngoài trụ sở. Theo đó, nếu người lập di chúc bị ốm nặng, không thể tự mình đến tận nơi để công chứng thì có thể yêu cầu công chứng viên đến nhà, bệnh viện, … nơi người này chữa trị. Pháp luật dự liệu trường hợp người lập di chúc không thể tự đến cơ quan công chứng vì bệnh tật, sức khỏe yếu hoặc vì các lý do chính đáng có thể yêu cầu công chứng viên đến nơi cư trú, nơi làm việc, học tập,.. để thực hiện việc lập di chúc bằng văn bản có công chứng theo điều 636 BLDS năm 2015.