Đất tái định cư sau khi ly hôn là tài sản riêng của vợ, chồng

Công ty Luật CMA - hotline: 0986057998 - 0944296698

0
155

“Sau khi ly hôn, vợ chồng không chia tài sản chung gồm quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà gắn liền với đất. Người vợ đã rời khỏi nơi cư trú đến nơi khác sinh sống, người chồng tiếp tục sử dụng đất trên để ở. Nay, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất với toàn bộ thửa đất trên, đã bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất, nhà theo đúng quy định pháp luật; và hỗ trợ tái định cư cho người chồng một suất đất ở tái định cư. Vậy suất đất tái định cư này là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng người chồng ?”

1. Căn cứ pháp lý

– Luật Đất đai năm 2013;

– Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

– Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.

2. Luật sư CMA tư vấn

2.1. Điều kiện để được tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. 

Thứ nhất, đối tượng được tái định cư: Căn cứ điểm c khoản 1 điều 83 Luật đất đai, điều 22 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP thì tái định cư chỉ áp dụng với hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có đất ở (có GCN QSDĐ hoặc đủ điều kiện để được cấp GCN QSDĐ, quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất) bị thu hồi hoặc có chung đất ở bị thu hồi hoặc có nhà ở bị thu hồi hoặc hộ gia đình cùng chung sống với chủ sử dụng đất ở. Theo đó, Tái định cư không áp dụng với tổ chức sử dụng đất.

Thứ hai, có đất ở bị thu hồi hết hoặc diện tích đất còn lại không đủ điều kiện để ở và không còn đất ở, nhà ở nào khác trên cùng địa bàn xã, phường, thị trấn (điểm a khoản 1 điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP).

Ví dụ: Tại thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 2 điều 6 Quyết định số 24/2022/QĐ-UBND thì được coi là không đủ điều kiện để ở khi diện tích còn lại đó thoả mãn các tiêu chí sau:

(1) Phần diện tích đất còn lại sau thu hồi không phù hợp với chỉ giới xây dựng theo quy hoạch, không có kết nối giao thông;

(2) Đối với khu vực đô thị: cạnh nhỏ nhất của thửa đất sau khi thu hồi nhỏ hơn 3,5 m (trừ trường hợp thửa đất trước khi thu hồi đã có cạnh nhỏ hơn 3,5m) và diện tích thửa đất còn lại nhỏ hơn 40,0 m2;

(3) Đối với khu vực nông thôn: cạnh nhỏ nhất của thửa đất sau khi thu hồi nhỏ hơn 4 m (trừ trường hợp thửa đất trước khi thu hồi đã có cạnh nhỏ hơn 4 m) và diện tích thửa đất còn lại nhỏ hơn 60,0 m

Thứ ba, việc thu hồi đất làm chủ sử dụng đất phải di chuyển chỗ ở.

2.2. Đất tái định cư sau khi ly hôn là tài sản riêng của vợ chồng 

Như vậy, hỗ trợ tái định cư là chính sách hỗ trợ của nhà nước để ổn định đời sống khi bị thu hồi đất. Việc hỗ trợ tái định cư áp dụng với những người đang ở trên đất bị nhà nước thu hồi đất.

Trong trường hợp trên, người vợ đã rời khỏi nơi cư trú không ở trên đất nên không đủ điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ tái định cư, suất đất tái định cư là tài sản riêng của người chồng sau khi ly hôn. Khi cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất là tài sản chung chưa chia khi ly hôn của vợ chồng, người vợ có quyền được hưởng một phần bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất, nhà ở,… theo thỏa thuận của 2 vợ chồng. Nếu không thỏa thuận được, người vợ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, Tòa án sẽ căn cứ công sức đóng góp, duy trì, tạo lập tài sản chung để chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật Hôn nhân và Gia đình.