1. Điều kiện được xác định lại diện tích đất ở (Căn cứ khoản 6 Điều 141 Luật đất đai 2024), cụ thể:
Thứ nhất, Thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi nội dung: Đất ở, đất vườn hoặc thổ cư và kèm phân chia diện tích đất ở và đất vườn. Theo đó, trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp ghi rõ loại đất nông nghiệp (không có đất ở) thì không đủ điều kiện để xác định lại diện tích đất ở.
Thứ hai, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho thửa đất là trước ngày 01/07/2004.
Thứ ba, việc xác định lại diện tích đất ở được thực hiện khi: Người sử dụng đất yêu cầu hoặc khi nhà nước thu hồi đất. Theo đó, trường hợp người sử dụng đất không yêu cầu hoặc nhà nước không thực hiện thu hồi đất (theo quy định của pháp luật) thì thửa đất sẽ không đương nhiên được xác định lại diện tích đất ở. Vì vậy, đã có rất nhiều trường hợp người sử dụng đất chuyển giao quyền sử dụng đất (chuyển nhượng, tặng cho) quyền sử dụng đất mà không biết để thực hiện quyền yêu cầu xác định lại diện tích đất ở làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ tư, tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất người sử dụng đất có một trong các giấy tờ để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (tham khảo bài viết: Cấp sổ đỏ không phải nộp tiền từ ngày 01/08/2024).
2. Diện tích đất ở được công nhận mà không phải nộp tiền sử dụng đất khi xác định lại diện tích đất ở: (Tham khảo bài viết: Diện tích hạn mức đất ở cấp sổ đỏ lần đầu khi công nhận quyền sử dụng đất từ ngày 01/08/2024)
3. Các trường hợp bị loại trừ và không được xác định lại diện tích đất ở:
Các trường hợp đáp ứng điều kiện xác định lại diện tích đất ở như phân tích tại mục 1, tuy nhiên, sẽ bị loại trừ một phần diện tích hoặc không được xác định lại diện tích đất ở khi thuộc các trường hợp sau:
Thứ nhất, người sử dụng đất đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất một phần diện tích đất ở của thửa đất hoặc Nhà nước đã thu hồi một phần diện tích đất ở của thửa đất thì khi xác định lại diện tích đất ở phải trừ đi phần diện tích đất ở đã chuyển quyền sử dụng đất hoặc thu hồi.
Thứ hai, Diện tích đất của người nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hoặc phần diện tích đất Nhà nước đã thu hồi thì không được xác định lại đất ở. Theo đó, người/tổ chức nhận chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn của người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày 01/07/2004 có đủ các điều kiện trên đây nhưng không làm thủ tục xác định lại diện tích đất ở trước khi chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn thì không được xác định lại diện tích đất ở. Do đó, trường hợp người sử dụng đất không biết để thực hiện các quyền của mình trước khi chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn sẽ bị thiệt hại về lợi ích. Hiện nay, pháp luật chưa có quy định cơ quan thực hiện công chứng, chứng thực hoặc cơ quan tiếp nhận việc đăng ký biến động phải giải thích các quyền, lợi ích liên quan đến việc xác định lại diện tích đất ở cho người sử dụng đất.

