Xác định quan hệ cha con ngoài giá thú

Công ty Luật CMA - hotline: 0986057998 - 0944296698

0
31
  1. Căn cứ pháp lý
  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Luật Hộ tịch năm 2014;
  • Thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Hộ tịch và nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật Hộ tịch.
  1. Luật sư tư vấn
2.1. Căn cứ xác định quan hệ cha, mẹ, con.
Theo quy định tại điều 88 Luật hôn nhân gia đình 2014 xác định cha, mẹ cho con được thực hiện trên các nguyên tắc sau:
  • Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
  • Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
  • Trường hợp cha mẹ không thừa nhận con phải có chứng cứ và được Tòa án xác định. Người được nhận và không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình hay không.
2.2. Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho con
+) Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình nếu không có tranh chấp theo quy định tại điều 102 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
+) Trường hợp người có yêu cầu xác định cha, mẹ, con chết thì người thân thích có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con cho người đã chết theo quy định tại Điều 92 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
+) Trường hợp xác định cha, mẹ, con cho người chưa thành niên, đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự thì theo quy định tại khoản 3 Điều 102 luật Hôn nhân và gia đình các cá nhân, tổ chức sau có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con:
  • Cha, mẹ, con, người giám hộ;
  • Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
  • Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
  • Hội liên hiệp phụ nữ.
2.3. Thẩm quyền xác định cha, mẹ cho con
a) Thẩm quyền đăng ký việc nhận cha, mẹ cho con của Ủy ban nhân dân
Theo khoản 1 Điều 101 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định thẩm quyền xác định cha, mẹ, con là do: “Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp”.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 3; điểm a khoản 1 Điều 7; Điều 24 Luật hộ tịch năm 2014 thì thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con là công dân cư trú ở trong nước do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con. Nếu có yếu tố nước ngoài thì việc đăng ký nhận cha, mẹ, con thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi người được nhận thường trú hoặc tạm trú.
b) Thẩm quyền xác định cha, mẹ cho con tại Tòa án
Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định cha, mẹ, con trong 03 trường hợp:
  • Có tranh chấp;
  • Người được yêu cầu xác định cha, mẹ, con đã chết;
  • Người có yêu cầu xác định cha, mẹ, con chết.
Việc xác định quan hệ cha mẹ con có ý nghĩa rất lớn, không chỉ là căn cứ để phát sinh các quyền, nghĩa vụ của bố mẹ đối với con mà còn là căn cứ xác định trách nhiệm của các bên trong mối quan hệ này. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp đều có thể dễ dàng xác định được quan hệ cha, mẹ, con.
Ví dụ, trường hợp người vợ mang thai con trong thời kỳ hôn nhân, người chồng hợp pháp không thừa nhận con phải có chứng cứ và được Tòa án xác định. Cha ruột của con ngoài giá thú muốn nhận lại con của mình phải làm đơn yêu cầu Tòa án xác định quan hệ cha – con. Theo quy định tại Điều  88, 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
” Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.
Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.”
2.4. Hồ sơ yêu cầu xác định cha, mẹ, con tại Tòa án
Căn cứ quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự hiện hành, hồ sơ khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định quan hệ cha, con gồm:
+ Đơn khởi kiện yêu cầu xác định cha, mẹ con;
+ CMND, CCCD, sổ hộ khẩu của các bên;
+ Giấy tờ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con;
Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con gồm một trong các giấy tờ, tài liệu quy định tại điều 14 thông tư 04/2020/TT-BTP:
– Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.
– Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con và có ít nhất 02 người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.
Quyết định của Tòa án về việc xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.