Các trường hợp không được ly hôn ?

0
116
1. Cơ sở pháp lý
  • Luật Hôn nhân và gia đình 2014
2. Luật sư tư vấn
Ly hôn là vấn đề không mong muốn khi hai bên nam nữ thiết lập quan hệ hôn nhân (pháp luật không thừa nhận quan hệ hôn nhân đồng giới). Theo nhận định chung, trên diện rộng trong quan hệ hôn nhân thường phụ nữ ở phương diện thế yếu. Do đó, để bảo vệ các quyền và lợi ích của phụ nữ, trẻ em khi chấm dứt quan hệ hôn nhân (ly hôn đơn phương hoặc thuận tình ly hôn) pháp luật có quy định những điều kiện khắt khe, nhưng thiên về định tính để thẩm phán cân nhắc, đánh giá một cách toàn diện đầy đủ khi quyết định cho phép việc ly hôn.
Trong một số trường hợp việc ly hôn sẽ không được chấp thuận chủ yếu nhằm hạn chế các hệ lụy có thể xảy ra cho bên thế yếu. Tuy nhiên, chỉ hạn chế chủ yếu với “Phái mạnh” nhưng vẫn trao quyền cho người phụ nữ “Phái yếu” trong quyết định việc tiếp tục hoặc không tiếp tục quan hệ hôn nhân.
2.1. Căn cứ không được ly hôn:
Việc ly hôn sẽ không được tòa án chấp nhận khi:
a) Lý do của việc ly hôn không thỏa mãn điều kiện do pháp luật, như:
    • Không có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình.
    • Không có căn cứ về việc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Thứ nhất, Vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ nghĩa là:
Theo quy định tại chương III Luật hôn nhân và gia đình thì sau khi kết hôn, vợ, chồng có nghĩa vụ với nhau về mọi mặt, như: Về nhân thân, tài sản, quan hệ dạy dỗ con cái, chăm lo cuộc sống gia đình, chung thủy.
Tuy nhiên, trong cuộc sống, có thể có những mâu thuẫn phát sinh làm cho một trong các bên một cách vô ý hoặc cố ý tạo ra mâu thuẫn, có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bên còn lại hoặc của con cái, đời sống gia đình làm phát sinh mâu thuẫn trong hôn nhân. Các vi phạm có thể liệt kê để dẫn tới việc đơn phương ly hôn hoặc hai bên thuận tình ly hôn như:
  • Vợ chồng không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau: Thể hiện ra bên ngoài như: Dùng những lời nói cay nghiệt, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, đay nghiến. Coi thường, mặc kệ nhau trong mọi sinh hoạt của đời sống, không quan tâm tới hoạt động hoặc đời sống của một bên còn lại hoặc của con cái, người phụ thuộc trong gia đình….
  • Có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau: Hành vi ngược đãi có thể về mặt tinh thần như thường xuyên khủng bố tinh thần nhiếc móc, gây áp lực tâm lý hoặc ngược đãi về thể xác như đánh đập, bạo lực gia đình, bạo lực trong sinh hoạt vợ chồng…
  • Không chung thủy với nhau: Một trong các bên có quan hệ ngoại tình.
Thông thường trong trường hợp đơn phương, nếu bên còn lại không chứng minh được sự vi phạm của bên kia, và người chồng/vợ là bị đơn có yêu cầu đoàn tụ. Thì tòa án sẽ khó chấp nhận yêu cầu đơn phương xin ly hôn của bên còn lại. Việc quyết định thường sẽ dựa trên nhiều yếu tố để đánh giá một cách tổng quát, tổng thể mâu thuẫn của vợ chồng dẫn tới việc ly hôn. Nhưng nguyên nhân nêu trên là trọng yếu.
Thứ hai, Mục đích của hôn nhân không đạt được:
Hôn nhân là sự gắn hết hài hòa người nam và nữ (hiện nay luật chưa thừa nhận hôn nhân đồng giới) để tạo nên một cuộc sống chung hạnh phúc, thực hiện các quyền nghĩa vụ với nhau với các thành viên trong gia đình và với xã hội. Hôn nhân là nguồn gốc tạo ra gia đình – tế bào của xã hội. Vì vậy, khi đánh giá việc sống chung của hai người không còn hướng tới xây dựng hạnh phúc, tạo lập cuộc sống hạnh phúc cho nhau, cho các thành viên khác (con cái) thì được coi là mục đích của hôn nhân không đạt được.
Để đánh giá mục đích hôn nhân không đạt được thì tòa án sẽ phải cân nhắc, nhìn nhận trên nhiều phương diện, diễn biến đời sống chung của hai vợ chồng. Thông qua việc lấy ý kiến, lời khai của các bên trong quan hệ hôn nhân, chính quyền địa phương, đại diện khu phố, hàng xóm, anh chị em, bố mẹ trong gia đình khi cần thiết thậm chí là ý kiến của các con đã trên 7 tuổi (nếu cần).…
b) Các trường hợp hạn chế quyền ly hôn của một bên:
  • Bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em: Tinh thần xây dựng pháp luật về hôn nhân nói chung đều hướng tới bảo vệ đối tượng yếu thế (về mặt tổng quan) là phụ nữ hoặc trẻ em. Vì vậy, trong trường hợp vợ đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi người chồng sẽ không có quyền đơn phương ly hôn. Tuy nhiên, luật chỉ hạn chế quyền đơn phương ly hôn của chồng, không hạn chế quyền ly hôn của vợ. Theo thuật ngữ chung thì trường hợp này chia ra 3 trường hợp:
    • Một là: Vợ đang mang thai: Không cần biết con đó có phải của người chồng hiện tại hay không. Như vậy, có thể thai nhi đó không cùng huyết thống do vợ ngoại tính hoặc đang mang thai hộ thì người chồng đều không có quyền đơn phương ly hôn.
    • Hai là: Sinh con.
    • Ba là: Nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Về mặt thuật ngữ luật chỉ quy định là nuôi con vì vậy, việc nuôi con này có thể là con đẻ hoặc con nuôi dưới 12 tháng tuổi.
Dịch vụ pháp lý của CMA:
  • Với đội ngũ luật nhiều kinh nghiệm, tâm huyết với nghề, chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và cùng khách hàng giải quyết những vướng mắc;
  • Tư vấn các vấn đề liên quan đến ly hôn nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của khách hàng, hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nếu có thể;
  • Hỗ trợ thu thập các giấy tờ, tài liệu liên quan đến việc ly hôn;
  • Hỗ trợ khách hàng thực hiện các thủ tục để tiến hành ly hôn.
_______________
Tư vấn Luật sư vui lòng liên hệ:
Công ty Luật CMA
Hotline: 0986.057.998 & 0944.296.698           Email: CongtyluatCMA@gmail.com
Luật sư – Tư vấn – Tranh tụng – Sở hữu trí tuệ