Bố qua đời khi chưa làm Sổ Đỏ, mẹ có được đứng tên trên Sổ đỏ lần đầu không?

0
14

Nhiều người nghĩ rằng nhà đất là tài sản chung của vợ chồng thì khi người chồng mất, người vợ sẽ được sở hữu, toàn quyền quyết định. Nhưng theo quy định của pháp luật, nhà đất lúc này không chỉ là tài sản chung của vợ chồng mà còn liên quan đến quyền thừa kế di sản.

1. Khi bố qua đời, nhà đất thuộc quyền sở hữu của ai?

a) ½ nhà đất thuộc quyền sở hữu của mẹ

  • Căn cứ Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

“1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.”

Như vậy, khi nhà đất là tài sản chung của vợ chồng thì khi một bên chết sẽ được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản (trường hợp này thực tế rất ít). Khi người bố qua đời, người mẹ chỉ được hưởng ½ tài sản nhà đất, ½ còn lại của người bố đã mất sẽ được chia theo quy định pháp luật về thừa kế.

b) ½ tài sản nhà đất được chia đều cho những người thừa kế theo quy định

Theo quy định của Bộ Luật dân sự (BLDS) năm 2015 về thừa kế, pháp luật ưu tiên thừa kế theo di chúc, theo mong muốn, nguyện vọng của người mất. Khi không đủ các điều kiện để áp dụng thừa kế theo di chúc thì lúc này mới áp dụng thừa kế theo pháp luật.

  • Điều 651 BLDS năm 2015 quy định Người thừa kế theo pháp luật

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

            Theo đó, ½ tài sản nhà đất của người bố đã mất được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế theo quy định trên.

Kết luận: Khi người bố qua đời, không có di chúc thì nhà đất: ½ thuộc quyền sở hữu của mẹ, ½ thuộc quyền sở hữu của những người thừa kế theo quy định của pháp luật.

2. Trình tự, thủ tục làm Sổ đỏ mang tên mẹ

            Như vậy tài sản nhà đất giờ không còn là tài sản chung của vợ chồng mà là tài sản chung của nhiều người. Khi muốn làm sổ đỏ mang tên mẹ thì cần được sự đồng ý của tất cả những người còn lại. Thủ tục như sau:

  • B1: Lập Văn bản thỏa thuận cử người đại diện (tất cả những người sở hữu chung nhà đất cùng kí vào văn bản);
  • B2: Người được cử đại diện thực hiện thủ tục Cấp Sổ đỏ lần đầu (Sổ đỏ này sẽ đứng tên cả người bố đã mất và mẹ);
  • B3: Khai nhận di sản thừa kế của người bố đã mất;
  • B4: Lập biên bản phân chia di sản thừa kế;
  • B5: Từ Sổ đỏ cấp lần đầu, thực hiện thủ tục sang tên cho người mẹ, dựa theo biên bản phân chia di sản thừa kế.